Đạo Phật không mê tín! Người đi tìm Chánh Pháp

Khổ Đế: Sự Thật Trung Tâm Của Luân Hồi


Điều gì là sự thật tối hậu của luân hồi này?

Có một sự thật mà Đức Phật Thích Ca đã mất bốn A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để tìm ra. Đó cũng là sự thật mà tất cả chư Phật ba đời mười phương đều đồng chứng ngộ.

Trong nhiều truyền thống, Tánh Không được tôn lên như chân lý tối hậu. Nhưng nếu hiểu đúng theo lời Phật, Tánh Không chỉ là một cách khác để nói về Vô Ngã. Tôi không ngạc nhiên, bởi Vô Ngã là một trong ba tướng của vạn pháp. Nhưng Vô Ngã không phải là trung tâm, và Đạo giải thoát của Đức Thế Tôn đã bị người khác làm lệch trọng tâm.

Vì dù có hiểu Vô Ngã trên câu chữ, dù có biết hết mọi quy luật của vũ trụ, một chúng sinh vẫn tiếp tục trôi lăn trong luân hồi – nếu không thấy ra một sự thật duy nhất mà chư Phật đồng tuyên thuyết.

Sự thật ấy là Khổ đế.

KHỔ LÀ SỰ THẬT TỐI HẬU CỦA LUÂN HỒI

Toàn bộ Tam Tạng, nếu xét kỹ, chỉ xoay quanh một chữ Khổ. Đức Phật thuyết về Khổ ở mọi nơi, với mọi người, trong mọi thời điểm – không phải vì trùng lặp, mà vì không có gì quan trọng hơn Khổ đế. Mọi giáo lý khác đều xoay quanh và phục vụ cho việc thấu hiểu và diệt trừ Khổ.

Ngài từng dạy:

“Điều Ta biết nhiều như lá trong rừng. Nhưng điều Ta nói chỉ như nắm lá trên tay.
Đây là Khổ, đây là sự tập khởi của Khổ, đây là sự diệt Khổ, đây là con đường đưa đến diệt Khổ – là điều mà Ta muốn nói.”

Thế nhưng vẫn có người cho rằng:

“Khổ không có thật, chỉ là sự phản kháng của tâm trước những bất như ý”, hoặc: “Khổ chỉ là góc nhìn.”

Những tuyên bố đó là sự hiểu sai nghiêm trọng, vì Khổ là sự thật khách quan của luân hồi, là sự thật của mọi sự thật.

Nếu không thấu được như thế, ta sẽ còn tiếp tục trôi lăn luân hồi trong vô lượng kiếp nữa. Vì chỉ có Chánh Pháp của một vị Phật mới chỉ dạy cho chúng ta thấy sự thật này.

Khổ không chỉ là cảm thọ đau đớn trên thân, hay tâm trạng bức bối khi gặp điều không khả ý. Khổ có mặt trong sự bất toàn và bất toại của mọi hiện hữu, là bản chất của hiện hữu.

Chúng ta thấy khổ nơi một người nghèo đói, bệnh tật, bị đối xử bất công, bị khinh rẻ, hay khi một người đối diện cửa sanh tử. Những gì không mong muốn nhưng vẫn đến – ta gọi là Khổ.

Nhưng ngược lại: giàu sang, sức khỏe, sắc đẹp, đỉnh cao danh vọng – thì sao?

Mọi thứ trong luân hồi – bao gồm thân tâm ta – đều là lắp ghép tạm bợ, phụ thuộc vào các duyên để tồn tại. Các pháp hữu vi sinh diệt từng sát-na, không ngừng phủ định lẫn nhau: Cái mới sinh ra thì cái cũ liền diệt, và cái mới ấy sinh ra trên sự suy tàn của cái cũ.

Đó là quy luật vận hành của thế giới: không gì đứng yên, không gì vững chắc.

Vậy thì chúng ta có thể giữ lại những gì tốt đẹp chăng?

Chắc là không.

Giàu sang chính là duyên cho nghèo khổ, bệnh tật đang chờ người khỏe mạnh, sự chia ly đang chờ những người thương nhau, và cái chết đang chờ bất kỳ ai sinh ra.

Tất cả những gì tốt đẹp và thiêng liêng nhất với ta sẽ liên tục bị phủ định bằng những trạng thái mới.

Khi lớn lên, ta vô thức mang theo những mục tiêu: học hành, xây dựng sự nghiệp, lập gia đình...
Nhưng toàn bộ những gì ta đạt được không khác công sức của con dã tràng se cát – mỗi khi sóng đến đều tan biến.
Bởi mọi thứ đều kết thúc bằng đổ vỡ, đau thương, chia ly và mất mát.
Ta đã lặp đi lặp lại những điều đó hàng tỉ lần trong vòng luân hồi này rồi.

Có người vì lỡ chữ hiếu mà nguyện rằng kiếp sau sẽ báo hiếu phụ mẫu; có những cặp đôi hẹn nhau kiếp sau để bù đắp những điều chưa thực hiện được; người thì hứa sẽ che chở cho người mình thương muôn đời.

Nhưng hãy tự hỏi: ta là gì và người thương của ta là gì?

Một con robot, mỗi ngày được thay một bộ phận: hôm nay tay chân, hôm sau là thân đầu, hôm sau là bộ xử lý và phần mềm mới.
Vậy thì nó còn là nó nữa không?

Chúng ta giữa dòng luân hồi cũng như thế: ta đã không còn là ta, người thương cũng chẳng còn là người thương.
Vậy thì những nguyện ước “kiếp sau gặp lại” – có phải chỉ là ảo vọng ngây thơ?

Tưởng tượng có một người nhặt rác đang cầm một bọc rác thủng đáy:
anh ta liên tục nhặt rác mới bỏ vào, nhưng đồng thời rác cũ cũng liên tục rớt lại.
Một chúng sinh cũng như bọc rác thủng đáy đó – chỉ là tập hợp những vật bất tịnh, không có nội tại và không ngừng biến đổi.

Dưới góc nhìn của vô thường và vô ngã, tất cả là những quy luật vô tri đang vận hành và trôi đi trong vô định.
Trong dòng chảy đó, không có gì đứng yên để ta có thể nương vào như một điểm tựa.
Chính ta cũng sẽ bị nhấn chìm và biến chuyển hoàn toàn – thì làm sao lo được cho người ta thương?

Lại nữa, dòng luân hồi là vô định.
Dù ta có cố gắng nắm giữ hay sắp đặt vun đắp đến đâu, mọi thứ vẫn vận hành theo quy luật riêng mà ta không cách nào làm chủ được.
Mọi nỗ lực tìm kiếm sự thỏa mãn hay hạnh phúc vĩnh cửu trong luân hồi đều là vô vọng, bởi sự bất như ý là bản chất cố hữu.

Mỗi chúng ta mang theo một “biển phước”, nhưng đồng thời là một “trời nghiệp”.
Chúng ta sẽ trôi về đâu thật không cách nào đoán định được, nói gì đến những mong muốn xa xôi hơn?

Ngay cả khi may mắn đạt được điều mình khao khát, niềm vui ấy cũng nhanh chóng qua đi, để lại tự chán nản và trống vắng.
Hành trình rượt đuổi hạnh phúc trong vòng sinh tử này là một vòng xoáy không đáy của sự bất toàn và thiếu vắng.

Một bậc Thánh, khi trực tiếp quán thấy mọi pháp diệt đi liên tục ngay trong hiện tại, không gì có thể nắm giữ, vị ấy liền khởi tâm sợ hãi và nhàm chán mọi hiện hữu.
Đó là nỗi sợ của tuệ giác khi thấu rõ bản chất cuộc đời, phá tan mọi ảo tưởng về một hiện hữu tốt đẹp.
Trong mắt Thánh nhân, hiện hữu là vấn đề, là gánh nặng – hiện hữu chính là Khổ.

Khi đó, mọi phước báo, mọi điều mà thế gian xem là tốt đẹp – đều trở thành vô nghĩa, vì chúng cũng sẽ dẫn đến Khổ.
Chư Thánh thật sự thấy rằng: không có gì tốt hơn ngoài giải thoát.

NIẾT-BÀN

Mục tiêu tối hậu của Đạo là đoạn tận Khổ, đạt Niết-Bàn an ổn vĩnh viễn.

Tuy nhiên, Niết-Bàn không phải là một chốn để trở về, không là “cái biết” bất sanh bất diệt, không là một bản tánh để nhận ra, càng không là một thực thể tối thượng nơi sinh ra mọi thứ.

Niết-Bàn, trong cách hiểu chính xác nhất, là sự đoạn tận tham ái và chấp thủ. Bát Niết-Bàn là sự tịch diệt thân và tâm, sự dừng lại của xúc và thọ, dẫn đến dừng lại mọi trải nghiệm. Là sự tịch diệt của khổ uẩn, cũng là sự dừng lại của hiện hữu trong luân hồi.

Các khái niệm như: Phật tánh, chân tâm, pháp tánh, tánh biết, Như Lai Tạng, bản thể vũ trụ, chân không diệu hữu, bản lai diện mục… được sinh ra để an ủi phàm phu khi đứng trước nỗi sợ của sự vô nghĩa và trống rỗng. Đó là những khái niệm mô tả điều không thật có, nhằm để phàm phu bám vào, níu kéo chút ý nghĩa cuối cùng khi đứng trước chân lý vô ngã. Chúng không gì hơn là biểu hiện của chấp ngã – điều mà chư Thánh đã hoàn toàn vượt thoát.

Chân lý vô ngã mà Đức Phật đã dạy là vô ngã hoàn toàn: không có gì trường tồn như một linh hồn đi xuyên qua các kiếp, không có tiểu ngã, không có đại ngã, càng không có chân ngã.

Bậc Thánh thấu rõ mọi hiện hữu chỉ là sự tập khởi của các duyên – trong đó có thân tâm chính mình. Vì thế, Niết-Bàn cũng chỉ là sự dừng lại của các duyên. Vị ấy đã trực nhận không có gì là mình – kể cả Niết-Bàn.

Cuối cùng, để tránh rơi vào đoạn kiến, cần khẳng định: Niết-Bàn là sự dừng lại của hiện hữu, nhưng không phải là không hiện hữu.

Bởi vì luân hồi là Khổ, nên mới có Đạo giải thoát. Giải thoát là sự dừng lại luân hồi, phàm phu không nên diễn giải thêm theo ngã kiến của mình.

“Phàm phu vì sợ Khổ, nên liền đầu tư Khổ
Bậc Thánh liễu tri Khổ, Ngài liền viễn ly Khổ”

“Tôi hỏi loài phù du,
mi tồn tại vì điều gì mà phải sống chết trong đau thương?
Chúng không trả lời…
Tôi lại hỏi chính mình:
Tôi tồn tại vì điều gì? Có phải khác phù du kia chăng?”