Đạo Phật không mê tín! Người đi tìm Chánh Pháp

Kinh Ví Dụ Con Rắn

Trung Bộ Kinh số 22

Alagaddūpama Sutta


Tôi nghe như vầy.

Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại Jetavana (Kỳ Đà Lâm), tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Lúc bấy giờ, có một Tỳ-kheo tên là Ariṭṭha, trước làm nghề huấn luyện chim, rơi vào một tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.’

Một số Tỳ-kheo nghe rằng: ‘Có một Tỳ-kheo tên là Ariṭṭha, trước làm nghề huấn luyện chim, đã rơi vào một tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.’

Rồi các Tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tỳ-kheo Ariṭṭha; khi đến nơi, họ nói với Tỳ-kheo Ariṭṭha như sau:

– Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng là Hiền giả đã có tà kiến như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại’?

– Đúng vậy, thưa các Hiền giả. Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.

Rồi các Tỳ-kheo ấy, vì muốn Tỳ-kheo Ariṭṭha từ bỏ tà kiến nguy hại đó, đã dồn hỏi, truy vấn, giải thích: ‘Này Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để tuyên thuyết về các pháp chướng ngại, và khi hành theo chúng đủ để trở thành chướng ngại. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục được ví như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc mộng, như vật vay mượn, như trái trên cây, như lò mổ, như cọc nhọn, như đầu rắn độc; có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn.’

Tuy nhiên, dù được các Tỳ-kheo ấy dồn hỏi, truy vấn, giải thích, Tỳ-kheo Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim, vẫn cố chấp bám chặt tà kiến nguy hại đó và tiếp tục nói rằng: ‘Thật vậy, này chư hiền, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.’

Vì các Tỳ-kheo ấy không thể khiến Tỳ-kheo Ariṭṭha từ bỏ tà kiến nguy hại đó, nên họ đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đến nơi, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, có một Tỳ-kheo tên là Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim, đã rơi vào một tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.’ Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe rằng Tỳ-kheo Ariṭṭha có tà kiến như vậy. Rồi chúng con đã đi đến chỗ Tỳ-kheo Ariṭṭha; khi đến nơi, chúng con đã nói với Tỳ-kheo Ariṭṭha rằng: ‘Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng là Hiền giả đã có tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại”?’

Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỳ-kheo Ariṭṭha từ bỏ tà kiến nguy hại ấy, nên đã dồn hỏi, truy vấn và giải thích: ‘Này Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn, xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt, Thế Tôn không bao giờ nói như vậy. Này Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để tuyên thuyết về các pháp chướng ngại, và khi hành theo chúng thì đủ để trở thành chướng ngại. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục được ví như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc mộng, như vật vay mượn, như trái trên cây, như lò mổ, như cọc nhọn, như đầu rắn độc, có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn.’

Bạch Thế Tôn, mặc dù được chúng con dồn hỏi, truy vấn và giải thích, Tỳ-kheo Ariṭṭha vẫn cố chấp bám chặt tà kiến nguy hại ấy và tiếp tục nói rằng: ‘Thật vậy, này chư hiền, theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.’ Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể khiến Tỳ-kheo Ariṭṭha từ bỏ tà kiến nguy hại ấy, nên chúng con đến trình lên Thế Tôn sự việc này.

Rồi Thế Tôn gọi một Tỳ-kheo khác:

– Này Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Tỳ-kheo Ariṭṭha, nói rằng: ‘Này Hiền giả Ariṭṭha, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.’

– Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Tỳ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ Tỳ-kheo Ariṭṭha; khi đến nơi, liền nói với Tỳ-kheo Ariṭṭha:

– Này Hiền giả Ariṭṭha, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỳ-kheo Ariṭṭha đáp lời Tỳ-kheo ấy, rồi đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đến nơi, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Ariṭṭha rằng:

– Này Ariṭṭha, có đúng là ông đã có tà kiến nguy hại như sau: ‘Theo tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại’?

– Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Theo con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi hành những pháp mà Thế Tôn gọi là chướng ngại, thì không đủ để trở thành chướng ngại.

– Này kẻ lầm lạc kia, ông căn cứ vào đâu mà hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ lầm lạc kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều phương tiện để tuyên thuyết về các pháp chướng ngại, và khi hành theo chúng thì đủ để trở thành chướng ngại? Ta đã thuyết rằng các dục có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Ta đã thuyết rằng các dục được ví như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc mộng, như vật vay mượn, như trái trên cây, như lò mổ, như cọc nhọn, như đầu rắn độc; có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn.

Lại nữa, này kẻ lầm lạc kia, do sự chấp thủ sai lạc của mình, không những ông đã xuyên tạc Ta, mà còn tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp. Này kẻ lầm lạc kia, điều ấy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Tỳ-kheo Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim này, có dù chỉ một tia lửa sáng nào trong Pháp và Luật này chăng?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, Bạch Thế Tôn.

Khi nghe như vậy, Tỳ-kheo Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim, liền im lặng, hổ thẹn, vai rũ xuống, cúi mặt, u uất, không biết nói gì, rồi ngồi yên.

Khi ấy, Thế Tôn sau khi biết Tỳ-kheo Ariṭṭha đang im lặng, hổ thẹn, vai rũ xuống, cúi mặt, u uất, không biết nói gì, liền nói với Tỳ-kheo Ariṭṭha rằng:

– Này kẻ lầm lạc kia, ông sẽ được biết đến bởi chính tà kiến nguy hại của mình. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỳ-kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, các ông có hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng giống như Tỳ-kheo Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim này, kẻ do sự chấp thủ sai lạc của mình đã xuyên tạc Ta, tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp không?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để tuyên thuyết về các pháp chướng ngại, và khi hành theo chúng thì đủ để trở thành chướng ngại. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Thế Tôn đã tuyên thuyết rằng các dục được ví như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc mộng, như vật vay mượn, như trái trên cây, như lò mổ, như cọc nhọn, như đầu rắn độc; có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay khi các ông hiểu giáo pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này các Tỳ-kheo, Ta đã dùng nhiều phương tiện để tuyên thuyết về các pháp chướng ngại, và khi hành theo chúng thì đủ để trở thành chướng ngại. Ta đã tuyên thuyết rằng các dục có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Ta đã tuyên thuyết rằng các dục được ví như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc mộng, như vật vay mượn, như trái trên cây, như lò mổ, như cọc nhọn, như đầu rắn độc; có vị ngọt thì ít, nhưng khổ đau và tổn hại thì nhiều, và sự nguy hiểm lại còn lớn hơn. Nhưng Tỳ-kheo Ariṭṭha, người trước làm nghề huấn luyện chim này, do chính sự chấp thủ sai lạc của mình mà đã xuyên tạc Ta, tự hủy hoại chính mình và tạo nhiều ác nghiệp. Điều ấy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ lầm lạc ấy.

Thật sự, này các Tỳ-kheo, một người có thể hành các dục mà tách rời khỏi các dục cảnh, các dục tưởng, các dục tầm; sự kiện như vậy không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, có một số kẻ lầm lạc học pháp như: Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp, họ không thẩm sát ý nghĩa của chúng bằng trí tuệ. Do ý nghĩa không được thẩm sát bằng trí tuệ, nên các pháp ấy không trở nên sáng tỏ. Họ học pháp với chủ đích là bắt bẻ và thắng lướt trong tranh luận. Do đó, họ không đạt được mục đích thực sự của việc học pháp. Những pháp ấy, do bị nắm giữ sai lạc, đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ sai lạc các pháp.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một người có ý muốn bắt rắn hổ, tìm kiếm rắn hổ, đi khắp nơi để tìm rắn hổ. Người ấy thấy một con rắn hổ lớn, liền nắm giữ con rắn ấy ở thân hoặc ở đuôi. Con rắn ấy quay lại cắn người ấy ở tay, ở cánh tay, hoặc ở một phần nào khác của cơ thể. Do nhân ấy, người ấy đi đến cái chết, hoặc phải chịu đau khổ gần như cái chết. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ sai lạc con rắn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có một số kẻ lầm lạc học pháp, như: Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp, họ không thẩm sát ý nghĩa của chúng bằng trí tuệ. Do ý nghĩa không được thẩm sát bằng trí tuệ, nên các pháp ấy không trở nên sáng tỏ. Họ học pháp với chủ đích là bắt bẻ và thắng lướt trong tranh luận. Do đó, họ không đạt được mục đích thực sự của việc học pháp. Những pháp ấy, do bị nắm giữ sai lạc, đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ sai lạc các pháp.

Này các Tỳ-kheo, có một số thiện nam tử học pháp như: Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp, họ thẩm sát ý nghĩa của chúng bằng trí tuệ. Do ý nghĩa được thẩm sát bằng trí tuệ, nên các pháp ấy trở nên sáng tỏ. Họ học pháp không với chủ đích là bắt bẻ và thắng lướt trong tranh luận. Do đó, họ đạt được mục đích thực sự của việc học pháp. Những pháp ấy, do được nắm giữ đúng đắn, đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ đúng đắn các pháp.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một người có ý muốn bắt rắn hổ, tìm kiếm rắn hổ, đi khắp nơi để tìm rắn hổ. Người ấy thấy một con rắn hổ lớn, liền dùng cây gậy có nạng đè chặt con rắn ấy. Sau khi đã đè chặt nó bằng cây gậy có nạng, người ấy nắm chắc cổ nó. Này các Tỳ-kheo, dù con rắn ấy có quấn thân nó quanh tay, quanh cánh tay hay một phần nào khác của cơ thể; do nhân ấy, người đó cũng không đi đến cái chết hay chịu sự đau khổ gần như cái chết. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ đúng đắn con rắn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có một số thiện nam tử học pháp như: Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp, họ thẩm sát ý nghĩa của chúng bằng trí tuệ. Do ý nghĩa được thẩm sát bằng trí tuệ, nên các pháp ấy trở nên sáng tỏ. Họ học pháp không với chủ đích là bắt bẻ và thắng lướt trong tranh luận. Do đó, họ đạt được mục đích thực sự của việc học pháp. Những pháp ấy, do được nắm giữ đúng đắn, đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì sự nắm giữ đúng đắn các pháp.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, đối với điều nào trong lời Ta thuyết giảng mà các ông hiểu rõ ý nghĩa, thì hãy thọ trì đúng như vậy. Còn đối với điều nào trong lời Ta thuyết giảng mà các ông không hiểu rõ ý nghĩa, thì hãy hỏi lại Ta, hoặc hỏi các Tỳ-kheo thông tuệ.

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông giáo pháp ví như chiếc bè, để vượt qua chứ không phải để nắm giữ. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Này các Tỳ-kheo, ví như có một người đang đi trên con đường dài; người ấy thấy một vùng nước rộng lớn, bờ bên này nguy hiểm và đáng sợ, bờ bên kia an ổn và không đáng sợ; nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc từ bờ này sang bờ kia. Người ấy nghĩ rằng: ‘Đây là một vùng nước rộng lớn, bờ bên này nguy hiểm và đáng sợ, bờ bên kia an ổn và không đáng sợ; nhưng không có thuyền để qua, cũng không có cầu bắc sang bờ bên kia. Hay là ta gom cỏ, thân cây, cành, lá, buộc thành một chiếc bè; rồi nương vào chiếc bè ấy, dùng tay và chân nỗ lực, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn.’ Này các Tỳ-kheo, người ấy gom cỏ, thân cây, cành và lá, buộc thành một chiếc bè; rồi nương vào chiếc bè ấy, dùng tay và chân nỗ lực, vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi đã vượt qua và đến bờ bên kia, người ấy nghĩ rằng: ‘Chiếc bè này đã giúp ích rất nhiều cho ta; nhờ chiếc bè này mà ta, dùng tay và chân nỗ lực, đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này lên đầu, hoặc vác nó lên vai, rồi đi đến nơi nào ta muốn.’ Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Nếu người ấy làm như vậy, thì có sử dụng chiếc bè đúng công dụng của nó không?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, người ấy phải làm thế nào mới là sử dụng chiếc bè đúng công dụng của nó?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, sau khi đã vượt qua và đến bờ bên kia, người ấy nghĩ rằng: ‘Chiếc bè này đã giúp ích rất nhiều cho ta; nhờ chiếc bè này mà ta, dùng tay và chân nỗ lực, đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên bờ đất khô, hoặc nhấn chìm nó xuống nước, rồi đi theo ý muốn.’ Này các Tỳ-kheo, làm như vậy, người ấy mới là sử dụng chiếc bè đúng công dụng của nó. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, giáo pháp được Ta thuyết giảng ví như chiếc bè: để vượt qua, không phải để nắm giữ.

Này các Tỳ-kheo, các ông cần hiểu rõ ví dụ chiếc bè. Khi đã hiểu rõ, thì các pháp còn phải buông bỏ, huống chi là phi pháp.

Này các Tỳ-kheo, có sáu nền tảng kiến. Thế nào là sáu?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không thân cận các bậc Thánh, không thông thạo pháp của các bậc Thánh, không được rèn luyện trong pháp của các bậc Thánh; không thân cận các bậc Chân nhân, không thông thạo pháp của các bậc Chân nhân, không được rèn luyện trong pháp của các bậc Chân nhân;
xem các sắc: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’;
xem các thọ: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’;
xem các tưởng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’;
xem các hành: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’;
xem những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’;
và bất cứ nền tảng kiến nào có nội dung rằng: ‘Thế giới này chính là tự ngã; sau khi chết ta sẽ thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại; ta sẽ tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi,’ với các quan điểm đó, người ấy cũng xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi.’

Và này các Tỳ-kheo, có vị đa văn Thánh đệ tử, thân cận các bậc Thánh, thông thạo pháp của các bậc Thánh, được rèn luyện trong pháp của các bậc Thánh; thân cận các bậc Chân nhân, thông thạo pháp của các bậc Chân nhân, được rèn luyện trong pháp của các bậc Chân nhân.
xem các sắc: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’;
xem các thọ: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’;
xem các tưởng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’;
xem các hành: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’;
xem những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’;
và bất cứ nền tảng kiến nào có nội dung rằng: ‘Thế giới này chính là tự ngã; sau khi chết ta sẽ thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại; ta sẽ tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi,’ với các quan điểm đó, người ấy xem là: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’

Nhờ quán sát như vậy, khi có sự vắng mất, vị ấy không rơi vào khủng hoảng, hoang mang.

Khi nghe nói vậy, một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, khi có sự vắng mất ở bên ngoài, có thể khởi lên sự khủng hoảng, hoang mang không?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỳ-kheo.

Ở đây, có người nghĩ như sau: ‘Cái gì đã từng là của tôi, nay không còn là của tôi; cái gì lẽ ra là của tôi, nay tôi không đạt được.’ Do vậy, người ấy buồn phiền, mệt mỏi, than vãn, đập ngực khóc lóc và rơi vào tuyệt vọng. Như vậy, này Tỳ-kheo, khi có sự vắng mất ở bên ngoài, có thể khởi lên khủng hoảng, hoang mang.

– Bạch Thế Tôn, khi có sự vắng mất ở bên ngoài, có thể không khởi lên sự khủng hoảng, hoang mang không?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỳ-kheo.

Ở đây, có người không nghĩ như sau: ‘Cái gì đã từng là của tôi, nay không còn là của tôi; cái gì lẽ ra là của tôi, nay tôi không đạt được.’ Do vậy, người ấy không buồn phiền, mệt mỏi, than vãn, đập ngực khóc lóc và rơi vào tuyệt vọng. Như vậy, này Tỳ-kheo, khi có sự vắng mất ở bên ngoài, có thể không khởi lên khủng hoảng, hoang mang.

– Bạch Thế Tôn, khi có sự vắng mất ở bên trong, có thể khởi lên khủng hoảng, hoang mang không?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỳ-kheo. Ở đây, có người có tà kiến như sau: ‘Thế giới này chính là tự ngã; sau khi chết ta sẽ thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại; ta sẽ tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi.’ Người này nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai thuyết pháp nhằm nhổ bật tận gốc mọi nền tảng của kiến, mọi chấp kiến và định kiến, mọi sự chấp chặt và các tùy miên; nhằm tịnh chỉ mọi hành; nhằm từ bỏ mọi sanh y; nhằm diệt tận khát ái, đưa đến ly tham, đoạn diệt và Niết-bàn. Sau khi nghe, người đó khởi lên ý nghĩ hoảng sợ: ‘Ta sẽ bị đoạn diệt, ta sẽ bị hoại diệt, ta sẽ không còn tồn tại.’ Do vậy, người ấy buồn phiền, mệt mỏi, than vãn, đập ngực khóc lóc và rơi vào tuyệt vọng. Như vậy, này Tỳ-kheo, khi có sự vắng mất ở bên trong, có thể khởi lên khủng hoảng, hoang mang.

– Bạch Thế Tôn, khi có sự vắng mất ở bên trong, có thể không khởi lên khủng hoảng, hoang mang không?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỳ-kheo. Ở đây, có người không có tà kiến như sau: ‘Thế giới này chính là tự ngã; sau khi chết ta sẽ thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại; ta sẽ tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi.’ Người này nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai thuyết pháp nhằm nhổ bật tận gốc mọi nền tảng của kiến, mọi chấp kiến và định kiến, mọi sự chấp chặt và các tùy miên; nhằm tịnh chỉ mọi hành; nhằm từ bỏ mọi sanh y; nhằm diệt tận khát ái, đưa đến ly tham, đoạn diệt và Niết-bàn. Sau khi nghe, người đó không khởi lên ý nghĩ hoảng sợ: ‘Ta sẽ bị đoạn diệt, ta sẽ bị hoại diệt, ta sẽ không còn tồn tại.’ Do vậy, người ấy không buồn phiền, mệt mỏi, than vãn, đập ngực khóc lóc và rơi vào tuyệt vọng. Như vậy, này Tỳ-kheo, khi có sự vắng mất ở bên trong, có thể không khởi lên khủng hoảng, hoang mang.

Này các Tỳ-kheo, có cái gì được các ông nắm giữ, mà cái được nắm giữ ấy có thể là thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại, tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi không? Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy một cái được nắm giữ nào như thế không?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Này các Tỳ-kheo, Ta cũng không thấy có bất kỳ cái gì được nắm giữ mà cái ấy có thể là thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại, tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi.

– Này các Tỳ-kheo, có Ngã luận thủ nào mà khi được chấp thủ lại không làm khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy một Ngã luận thủ nào như vậy không?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Này các Tỳ-kheo, Ta cũng không thấy có Ngã luận thủ nào mà khi được chấp thủ lại không làm khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

– Này các Tỳ-kheo, có nền tảng tà kiến nào (diṭṭhinissaya) mà khi nương tựa vào đó, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỳ-kheo, các ông có thấy một nền tảng tà kiến nào như vậy không?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn.

– Lành thay, này các Tỳ-kheo. Này các Tỳ-kheo, Ta cũng không thấy có nền tảng tà kiến nào mà khi nương tựa vào đó, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

– Này các Tỳ-kheo, khi có quan niệm về ngã (‘tôi’), thì có phát sinh quan niệm về ngã sở (‘của tôi’) không?

– Thưa có, Bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi có quan niệm về ngã sở, thì có phát sinh quan niệm về ngã không?

– Thưa có, Bạch Thế Tôn.

– Này các Tỳ-kheo, khi ngã và ngã sở không thể được tìm thấy một cách chân thật, thường hằng; thì bất cứ nền tảng kiến nào cho rằng: 'Thế giới này chính là tự ngã; sau khi chết ta sẽ thường còn, bền chắc, vĩnh cửu, không biến hoại; ta sẽ tồn tại đúng như vậy cho đến mãi mãi', này các Tỳ-kheo, chẳng phải kiến xứ ấy hoàn toàn, thuần túy là pháp của kẻ ngu sao?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không hoàn toàn, thuần túy là pháp của kẻ ngu được!

– Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Này các Tỳ-kheo, thọ là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Này các Tỳ-kheo, tưởng là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Này các Tỳ-kheo, hành là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Này các Tỳ-kheo, thức là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Do vậy, này các Tỳ-kheo, bất cứ sắc nào – quá khứ, tương lai hay hiện tại; nội hay ngoại; thô hay tế; liệt hay thắng; xa hay gần – tất cả sắc ấy cần phải được quán thấy đúng như thật, bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào… Bất cứ tưởng nào… Bất cứ hành nào… Bất cứ thức nào – quá khứ, tương lai hay hiện tại; nội hay ngoại; thô hay tế; liệt hay thắng; xa hay gần – tất cả thức ấy cần phải được quán thấy đúng như thật, bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’
Này các Tỳ-kheo, nhờ thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức, do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát; khi đã giải thoát, khởi lên trí biết rằng: ‘đã giải thoát’. Vị ấy biết: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã được làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’

Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy được gọi là người đã tháo dỡ then cửa, đã lấp đầy thông hào, đã nhổ bật cột trụ, đã mở tung chốt khóa; là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn mọi ràng buộc.

Thế nào là Tỳ-kheo đã tháo dỡ then cửa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ vô minh; vô minh ấy đã bị cắt đứt tận gốc rễ, như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không thể sanh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là vị Tỳ-kheo được gọi là đã tháo dỡ then cửa.

Thế nào là Tỳ-kheo đã lấp đầy thông hào? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ dòng sanh tử dẫn đến tái hữu; dòng ấy đã bị cắt đứt tận gốc rễ, như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không còn khả năng sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là vị Tỳ-kheo được gọi là đã lấp đầy thông hào.

Thế nào là Tỳ-kheo đã nhổ bật cột trụ? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ khát ái; khát ái ấy đã bị cắt đứt tận gốc rễ, như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không còn khả năng sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo được gọi là đã nhổ bật cột trụ.

Thế nào là Tỳ-kheo đã mở tung chốt khóa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử; các kiết sử ấy đã bị cắt đứt tận gốc rễ, như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không còn khả năng sanh khởi trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo được gọi là đã mở tung chốt khóa.

Thế nào là vị Tỳ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn mọi ràng buộc? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ tận gốc ý niệm ‘ta là’ (asmimāna); đã cắt đứt từ gốc rễ, như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không còn khả năng sanh khởi trở lại trong tương lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo được gọi là vị Tỳ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn mọi ràng buộc.

Này các Tỳ-kheo, đối với vị Tỳ-kheo có tâm đã giải thoát như vậy, chư thiên cùng với Đế Thích, Phạm thiên và Sanh chủ (Pajāpati), dù có truy tìm cũng không thể xác định được rằng: ‘thức của Như Lai đang nương vào đây.’ Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, ngay trong hiện tại, Ta nói rằng Như Lai không thể bị truy tìm.

Này các Tỳ-kheo, khi Ta thuyết như vậy, giảng giải như vậy, một số Sa-môn và Bà-la-môn xuyên tạc Ta bằng những điều không đúng sự thật, không có căn cứ, hư dối và bịa đặt rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt; đối với hữu tình đang hiện hữu, ông ta tuyên thuyết dẫn đến đoạn diệt, tiêu diệt và không còn tồn tại.’

Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta không là như vậy, Ta cũng không thuyết như vậy. Thế nhưng các Sa-môn và Bà-la-môn ấy lại xuyên tạc Ta bằng những điều không đúng sự thật, không có căn cứ, hư dối và bịa đặt rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt; đối với hữu tình đang hiện hữu, ông ta tuyên thuyết dẫn đến đoạn diệt, tiêu diệt và không còn tồn tại.’

Này các Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ tuyên thuyết về Khổ và sự diệt của Khổ. Này các Tỳ-kheo, nếu ở đây có người nhiếc mắng, phỉ báng, cố ý chọc giận và quấy nhiễu Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, Như Lai không có oán giận, không có bất mãn, tâm không có khó chịu. Này các Tỳ-kheo, nếu ở đây có người cung kính, tôn trọng, lễ bái và cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có sung sướng, và tâm không có thích thú. Này các Tỳ-kheo, nếu ở đây có người cung kính, tôn trọng, lễ bái và cúng dường Như Lai, thì này các Tỳ-kheo, Như Lai thấy rõ: ‘Điều này đã được Ta liễu tri từ trước; ở đây, đối với Ta, cũng chỉ như vậy.’

Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người nhiếc mắng, phỉ báng, cố ý chọc giận và quấy nhiễu các ông, thì các ông chớ có oán giận, chớ có bất mãn, tâm chớ có khó chịu. Này các Tỳ-kheo, nếu có người cung kính, tôn trọng, lễ bái và cúng dường các ông, thì các ông chớ có hoan hỷ, chớ có sung sướng, và tâm chớ có thích thú. Này các Tỳ-kheo, nếu có người cung kính, tôn trọng, lễ bái và cúng dường các ông, thì các ông hãy thấy rõ: ‘Điều này đã được ta liễu tri từ trước; ở đây, đối với ta, cũng chỉ như vậy.’

Do vậy, này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ. Việc từ bỏ ấy sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các ông? Này các Tỳ-kheo, sắc không phải của các ông, hãy từ bỏ sắc. Việc từ bỏ sắc sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, thọ không phải của các ông, hãy từ bỏ thọ. Việc từ bỏ thọ sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, tưởng không phải của các ông, hãy từ bỏ tưởng. Việc từ bỏ tưởng sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, các hành không phải của các ông, hãy từ bỏ các hành. Việc từ bỏ các hành sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, thức không phải của các ông, hãy từ bỏ thức. Việc từ bỏ thức sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông.

Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Nếu trong rừng Jetavana này, có người lấy đi cỏ, củi, cành và lá, rồi đốt hoặc sử dụng chúng theo ý họ muốn; thì các ông có nghĩ rằng: 'Người ấy đang lấy chúng ta đi, đang đốt chúng ta, hay đang sử dụng chúng ta theo ý muốn không'?

– Thưa không, Bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì đối với chúng con, những thứ ấy không phải là tự ngã, cũng không phải là sở hữu của tự ngã.

– Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ. Việc từ bỏ ấy sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các ông? Này các Tỳ-kheo, sắc không phải của các ông, hãy từ bỏ sắc. Việc từ bỏ sắc sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, thọ không phải của các ông, hãy từ bỏ thọ. Việc từ bỏ thọ sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, tưởng không phải của các ông, hãy từ bỏ tưởng. Việc từ bỏ tưởng sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, các hành không phải của các ông, hãy từ bỏ các hành. Việc từ bỏ các hành sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông. Này các Tỳ-kheo, thức không phải của các ông, hãy từ bỏ thức. Việc từ bỏ thức sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho các ông.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn; những Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, đã sống trọn phạm hạnh, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích tối thượng đã đạt được, các kiết sử dẫn đến hữu đã bị đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí; đối với những vị ấy, vòng luân chuyển không còn có thể được trình bày.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn, những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thì tất cả các vị ấy đều là những bậc hóa sanh, sẽ chứng đạt Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại thế gian này nữa.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn, những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ ba hạ phần kiết sử, đã làm suy yếu tham, sân, si; thì tất cả các vị ấy đều là bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế gian này đúng một lần để đoạn tận khổ đau.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn, những Tỳ-kheo nào đã đoạn trừ ba hạ phần kiết sử thì tất cả các vị ấy đều là bậc Dự lưu, có bản chất không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn, những Tỳ-kheo nào là bậc Thuận pháp hành, là bậc Thuận tín hành, thì tất cả những vị ấy đều hướng đến giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, như vậy, giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn. Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp được Ta khéo thuyết giảng, được hiển lộ, được khai mở, được sáng tỏ và nguyên vẹn, những vị nào chỉ có lòng tin nơi Ta, chỉ có lòng kính mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy đều hướng về Thiên giới.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.


Vui lòng dẫn nguồn và giữ nguyên nội dung khi chia sẻ !